Ngư Phong Ngô Quang Bích (1832-1890) hay còn có tên là Nguyễn Quang Bích được biết đến là vị thủ lĩnh vùng Thao Đà, người có ảnh hưởng rất quan trọng trong phong trào Cần Vương vùng Tây Bắc. Cùng với những tư tưởng tiến bộ và những di tích đậm dấu ấn còn lại đến ngày nay (ở vùng Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên hay khu căn cứ Tiên Động thuộc xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ), ông còn để lại một số tác phẩm thơ văn có giá trị góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn thơ yêu nước thời cận đại.

Đến nay, tại khu căn cứ Tiên Động thuộc xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ, hai câu thơ ông đọc trong lễ tế cờ năm 1884 vẫn được khắc dưới chân cột cờ như một lời thề non nước: “Việt quốc thiên thu nguyên bất dịch/ Lạc hồng tiên chủng phục hoàn tô”, có nghĩa là "Nước Việt ngàn năm không đổi/ Giống nòi Lạc Hồng sẽ lại hồi sinh tươi thắm". Đó không chỉ là lời hiệu triệu nghĩa quân mà còn là tuyên ngôn về ý chí độc lập dân tộc của một sĩ phu yêu nước trong buổi nước mất, nhà tan.

Theo các tư liệu lịch sử và gia phả dòng họ, Ngô Quang Bích còn có tên là Nguyễn Quang Bích, tự là Hàm Huy, hiệu Ngư Phong. Ông sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn, tức 7 tháng 5 năm 1832. Quê hương ông thuộc làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, nay thuộc xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Quang Bích thuộc dòng dõi họ Ngô Vương Quyền. Tại sao ông lại mang hai họ như vậy? Nhà nghiên cứu, TS Ngô Quang Nam, hậu duệ cách ông 5 đời lý giải: “Cụ Nguyễn Quang Bích vốn họ Ngô, dòng dõi vua Ngô Quyền và Ngô Từ, khai quốc công thần nhà Hậu Lê, ông ngoại là vua Lê Thánh Tông, nhưng cách Nguyễn Quang Bích 4 đời thì dòng họ di cư về vùng Thái Bình (nay là Hưng Yên), và do cụ nội đổi sang họ ngoại là họ Nguyễn, để tri ân công ơn phù trợ. Do vậy nên sử sách thường gọi cụ là Nguyễn Quang Bích, đến đời con là Ngô Quang Đoan lấy lại họ Ngô (vì theo phong tục, nếu đổi họ ngoại thì sau 5 đời được phép lấy lại họ chính). Một số giả định là cụ được ban quốc tính hay đổi họ để đi thi đều không đúng”

Ngay từ nhỏ Nguyễn Quang Bích nổi tiếng thông minh học giỏi nhất trong vùng. Năm 1858 ông đỗ tú tài, năm 1861 đỗ cử nhân và được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh, tỉnh Ninh Bình. Năm 1869, ông đỗ Hoàng giáp và được cử nhiều chức quan như Tri phủ tại phủ Lâm Thao, Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám Huế, Án sát tỉnh Bình Định, Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa… Người đời sau biết đến ông là người cương quyết chống lại đường lối thỏa hiệp với thực dân Pháp. Bên cạnh đó, Nguyễn Quang Bích còn là một văn nhân.

Có một giai thoại liên quan đến Nguyễn Quang Bích đó là vào khoa Kỷ Tỵ năm 1869, ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp dưới triều vua Tự Đức. Điều đặc biệt là trong lễ nhậm chức, thay vì xin phong thưởng cho gia đình như thông lệ, Nguyễn Quang Bích lại dâng biểu bày tỏ chí hướng chống ngoại xâm. Ông nguyện làm “chim ưng” để diệt “loài ô thước”, một hình ảnh ẩn dụ chỉ quân xâm lược.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, tư tưởng yêu nước và tinh thần “trọng dân” của Nguyễn Quang Bích đã bộc lộ rất sớm, vượt khỏi quan niệm trung quân thông thường của tầng lớp nho sĩ đương thời.

Về sự nghiệp văn chương, Nguyễn Quang Bích có ba tập thơ mang tên “Ngư Phong thi tập”, song hiện nay chỉ còn lưu giữ tập thứ ba với gần 100 bài phần lớn sáng tác theo các thể Đường luật trong những năm ông lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp, biểu lộ tiếng nói bi phẫn, đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử. Về văn xuôi, ông để lại một số tác phẩm tiêu biểu: “Văn sách thi đình”, bức thư trả lời thực dân Pháp...

Với những tư liệu nghiên của của mình, PGS.TS Vũ Thanh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học nhận định, không chỉ là nhà trí thức yêu nước, Nguyễn Quang Bích còn là nhà thơ tiên phong, nhà văn hóa lớn tham gia biên soạn những cuốn sách quan trọng của thời đại lúc bấy giờ. Ông từng được vua Tự Đức giao tham gia thẩm định và hoàn thiện bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, một công trình sử học quan trọng của triều Nguyễn.

“Thứ nhất, “Ngư Phong thi tập” đã mở ra một giai đoạn mới của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Các nhà khoa học và các nhà sử học đã khẳng định rằng, khởi nghĩa Tiên Động là cuộc khởi nghĩa diễn ra trước khi phong trào Cần Vương được phát động. Do đó, trước khi có chiếu Cần Vương thì đã có bức thư nổi tiếng của Nguyễn Quang Bích trả lời thực dân Pháp rồi. Thứ hai là đây là tập thơ đầu tiên của một nhà nho viết về Tây Bắc, cũng là một tập thơ rất hiện đại, mở đầu cho một giai đoạn hiện đại hóa văn học của dân tộc”.

Trong cuộc đời mình, Nguyễn Quang Bích luôn là một vị quan thanh liêm, đức độ nên được nhân dân các địa phương rất ngưỡng mộ và thường gọi ông là “Hoạt phật” có nghĩa là Phật sống. Cùng với tài thao lược, thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích còn là người giỏi thu phục nhân tâm và đầy khí phách. Điều đó được thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông như: “Sơn lộ hành tự uỷ” (tức “Đi đường núi tự an ủi", “Tự tình”.

Tiếc thay, công cuộc kháng Pháp của Nguyễn Quang Bích đang thu được một số kết quả, thì bất ngờ ông lâm bệnh nặng rồi mất vào ngày rằm tháng Chạp năm Canh Dần, tức 24 tháng 1 năm 1890 tại núi Tôn Sơn, thuộc Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày nay. Tưởng nhớ ông, nhân dân lập nơi thờ tự ông tại khu căn cứ Tiên Động, nay thuộc xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ. Ngày 12/02/1999, khu căn cứ Tiên Động được Nhà Nước xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Từ đó đến nay nơi đây là địa điểm tham quan mang ý nghĩa lịch sử tưởng nhớ và tôn vinh công lao to lớn của tướng quân Nguyễn Quang Bích và các nghĩa sỹ.

Ghi nhớ công lao của vị danh nhân tài ba của đất nước, tên ông được đặt cho tên đường phố và trường học ở các địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hưng Yên.