Nghe chương trình tại đây:
Xăng E10 được hiểu đơn giản là xăng có pha 10% etanol. Etanol được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu nông nghiệp như sắn, mía, ngô-những cái tên gần gũi, sẵn có đối với một quốc gia nông nghiệp như nước ta. Vì vậy, phát triển nhiên liệu sinh học cũng chính là đầu ra mới cho việc tiêu thụ các loại nông sản này.
Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương cho rằng, chúng ta có đủ điều kiện về nguyên liệu để phát triển etanol, đặc biệt từ cây sắn.
"Mía thì chủ yếu để sản xuất đường, chưa đưa vào sản xuất cồn. Ngô thì chúng ta sản lượng khoảng 4 triệu tấn một năm, chủ yếu dành cho chăn nuôi. Hiện nay sản xuất cồn chủ yếu là từ sắn, chúng ta có sản lượng sắn hằng năm khoảng 5 triệu tấn sắn lát khô", ông Đào Duy Anh thông tin.
Ở khía cạnh cung ứng công nghiệp, Việt Nam cũng đã có nền tảng ban đầu. Theo ông Đào Duy Anh, trong giai đoạn thực hiện lộ trình nhiên liệu sinh học trước đây, Việt Nam đã xây dựng 7 nhà máy sản xuất etanol. Đến nay, có 4 nhà máy còn hoạt động và mới khôi phục hoạt động trong thời gian vừa qua. Với công suất hiện tại, mỗi tháng các nhà máy sản xuất khoảng 20.000 đến 25.000 mét khối etanol, đáp ứng khoảng 25% nhu cầu phối trộn, tức là cần khoảng 100.000 mét khối cồn để hòa vào 1 triệu mét khối xăng dầu tiêu thụ mỗi tháng. Với nguồn nguyên liệu sản xuất etanol của nước ta hiện chủ yếu đến từ sắn, ông Duy Anh cho rằng hoàn toàn đáp ứng nguyên liệu nội địa cho phát triển nhiên liệu sinh học.
"Với công nghệ của các nhà máy đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay thì cứ khoảng 3kg sắn thì cho 01 lít cồn, có nghĩa rằng để sản xuất khoảng 1 triệu mét khối cồn thì chúng ta cần 1,5 triệu tấn sắn khô", như vậy thì chỉ riêng sắn không là chúng ta đã đủ nguyên liệu để sản xuất cồn, đáp ứng nhu cầu trong nước.
Trong bối cảnh xung đột quốc tế, ảnh hưởng đến nguồn cung và vận chuyển nhiên liệu, việc nước ta chủ động nguồn nhiên liệu sinh học tại chỗ là một lợi thế để thích ứng. Bởi đầu vào của etanol là sắn, vốn đã là nguồn nguyên liệu ổn định của thị trường trong nước.
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho rằng, trong các mục tiêu của chương trình nhiên liệu sinh học, mục tiêu bền vững nhất chính là giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản, để người dân không còn cảnh “được mùa mất giá”.
"Việt Nam bây giờ vẫn xuất khẩu khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn sắn khô sang Trung Quốc hàng năm. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là phải hạn chế xuất khẩu các sản phẩm thô". Như vậy, nếu như chương trình nhiên liệu sinh học triển khai được thành công thì "khối lượng sắn xuất khẩu thô sang các nước sẽ chuyển hướng vào nhiên liệu sinh học trong nước và như vậy giá trị gia tăng của ngành công nghiệp tăng cao hơn", ông Tuấn nhấn mạnh.
Từ nông sản thô đến nhiên liệu sinh học là một bước chuyển quan trọng. Khi có cơ hội tham gia vào ngành công nghiệp trong nước thì nông nghiệp sẽ được tổ chức lại bài bản hơn.
Ông Tuấn chỉ ra, trước đây người nông dân không trồng được cây gì mới trồng sắn, bởi đặc tính của loài cây này là dễ sống và chịu được đất cằn khô.
"Chúng ta phải thay đổi cách nhìn nhận đó. Nếu coi sắn là cây trồng có giá trị cao thì phải tư duy lại cách triển khai. Trước đây chúng ta trồng sắn thì không bao giờ bón phân, trồng ở nơi không trồng được cây gì nữa. Bây giờ chúng ta phải quy hoạch lại các vùng trồng sát nhà máy etanol hoặc nhà máy tinh bột, chúng ta phải đầu tư cải tạo đất bằng phân bón hữu cơ, cơ giới hóa bằng máy móc để gia tăng năng suất và giảm chi phí".
Cũng theo lãnh đạo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, quan trọng nhất của mọi quy trình sản xuất là đầu ra ổn định. "Khi mà chúng ta có đầu ra ổn định thì rõ ràng bất cứ một cái cây gì, không nói là cây sắn, sẽ tạo ra một động lực để bà con nông dân xây dựng chiến lược vùng trồng lâu dài", có như vậy, chuỗi giá trị từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ đồng ruộng đến bình xăng, mới có thể hình thành.
Không chỉ có nông sản là đầu vào để sản xuất nhiên liệu sinh học, ông Mai Tuấn Đạt, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam, cho biết, nguyên liệu có thể rộng hơn nhiều, bao gồm cả phụ phẩm và phế phẩm sinh học.
"Nhiên liệu sinh học được sản xuất từ nguồn có yếu tố sinh học là thực vật và động vật, từ trên cạn lẫn dưới nước. Ví dụ như mỡ cá chẳng hạn, rồi các phế phẩm từ nông sản, lâm sản, thủy sản đều có thể trở thành nguyên liệu cho việc sản xuất nhiên liệu sinh học", ông Đạt cho biết.
Khi nhu cầu càng cao thì việc mở rộng nguyên liệu, công ăn việc làm cho ngành nông nghiệp càng lớn. Một dòng chảy kinh tế tiềm năng sẵn sàng cho cả công nghiệp và nông nghiệp.
Ông Đạt tính toán, nhu cầu về etanol là khoảng một triệu khối một năm và thời giá như bây giờ sẽ tạo ra quy mô kinh tế khoảng gần 20.000 tỉ. "Nếu tính 70% chi phí về nguyên liệu chẳng hạn thì hơn mười nghìn tỷ sẽ chảy về tài khoản của những người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản.
Như vậy, phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ là câu chuyện của riêng ngành xăng dầu mà là cơ hội cho ngành nông nghiệp chuyển mình từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang tham gia vào chuỗi công nghiệp xanh, kết nối năng lượng với nông nghiệp và môi trường./.
