Theo thống kê của Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - A05 (Bộ Công an), hơn 77% trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam truy cập Internet hàng ngày.

Và, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, lực lượng chức năng đã ghi nhận hàng chục vụ lừa đảo, dụ dỗ, thao túng tâm lý và bắt cóc trực tuyến liên quan đến trẻ em và sinh viên. Nhiều nạn nhân bị ép buộc cắt đứt liên lạc với gia đình, bị điều khiển từ xa nhằm mục đích tống tiền hoặc buôn người.

Trao đổi với phóng viên VOV2, TS Nguyễn Tuấn Anh - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam cho rằng, cần cảnh báo về mức độ rủi ro mà trẻ em Việt Nam đang phải đối mặt trên không gian mạng.

Điều đáng lo ngại là các nguy cơ trên mạng thường diễn ra âm thầm, khó nhận diện và có tốc độ lan truyền rất nhanh. Một lời mời kết bạn, một tin nhắn làm quen, một đường link trò chơi, một hội nhóm tưởng như vô hại đều có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành vi dụ dỗ, thao túng tâm lý, lừa đảo, bắt nạt hoặc xâm hại trẻ em. Trẻ có thể bị khai thác thông tin cá nhân, bị đe dọa, bị ép gửi hình ảnh riêng tư, bị cô lập khỏi gia đình, thậm chí bị điều khiển hành vi từ xa.

Một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do trẻ nghiện mạng xã hội, tiếp cận công nghệ nhanh, sớm nhưng việc giáo dục kỹ năng số, kỹ năng tự bảo vệ và năng lực cảm xúc - xã hội lại chưa theo kịp. Nói cách khác, trẻ có thể sử dụng thiết bị rất thành thạo, biết tải ứng dụng, chơi game, trò chuyện, đăng tải hình ảnh, nhưng lại chưa đủ khả năng phân biệt đâu là tương tác an toàn, đâu là dấu hiệu của thao túng, dụ dỗ hoặc lừa đảo.

Từ góc độ xã hội, đây không còn là vấn đề riêng của từng gia đình mà là vấn đề an toàn trẻ em trong thời đại số.

Hiện, đã có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng các biện pháp bảo vệ trẻ trên không gian mạng, trong đó có việc cấm, hạn chế trẻ dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội. Tuy nhiên, TS Nguyễn Tuấn Anh cho rằng, Việt Nam cần thận trọng nếu áp dụng biện pháp cấm tuyệt đối.

“Về mặt mục tiêu, việc hạn chế trẻ nhỏ tiếp xúc quá sớm với mạng xã hội là cần thiết. Nhưng nếu chỉ dùng biện pháp cấm thì có thể phát sinh nhiều hệ quả như: trẻ tìm cách dùng tài khoản khác, khai sai tuổi, mượn thiết bị của người lớn hoặc chuyển sang các nền tảng khó kiểm soát hơn.

Có thể đưa ra quy định trẻ dưới một độ tuổi nhất định cần có sự đồng ý và giám sát của cha mẹ; nền tảng phải có cơ chế xác minh độ tuổi phù hợp, giới hạn nội dung độc hại, giới hạn quảng cáo nhắm vào trẻ em, cảnh báo khi trẻ sử dụng quá lâu hoặc tương tác với tài khoản có nguy cơ.

Nói cách khác, không nên cực đoan giữa hai lựa chọn “cấm hoàn toàn” hoặc “thả nổi hoàn toàn”. Điều cần thiết là thiết kế một môi trường số an toàn hơn cho trẻ, trong đó trẻ được tiếp cận tri thức, được giao tiếp lành mạnh, nhưng được bảo vệ trước các nội dung và hành vi gây hại” - TS Nguyễn Tuấn Anh nói.

Đồng thời, kiểm soát trên không gian mạng cần phân loại rõ nội dung. Những nội dung bạo lực, kích động thù ghét, xâm phạm đời tư, lừa đảo hay thao túng tâm lý phải được kiểm soát nghiêm ngặt; trong khi các nền tảng học tập, sáng tạo, phát triển kỹ năng nên được khuyến khích sử dụng phù hợp với độ tuổi.

Việt Nam hiện đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Trong đó có Quyết định 830/QĐ-TTg năm 2021 phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021–2025”; hay Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó dữ liệu của trẻ em được xác định là nhóm cần được bảo vệ đặc biệt.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn có tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 hoạt động 24/24 giờ để tiếp nhận, tư vấn và hỗ trợ xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Tuấn Anh, khoảng cách giữa chính sách và thực tế vẫn còn khá lớn.

“Nhiều phụ huynh chưa biết đầy đủ về các kênh hỗ trợ; nhà trường chưa đưa giáo dục an toàn số thành nội dung thường xuyên; việc giám sát trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới còn nhiều khó khăn” - TS Nguyễn Tuấn Anh cho biết.

Thời gian tới cần những giải pháp mang tính hệ thống và đồng bộ từ việc hoàn thiện khung pháp lý, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội trong việc xác thực độ tuổi, kiểm soát nội dung và bảo vệ dữ liệu trẻ em đến việc phân loại nền tảng theo mức độ rủi ro mà trẻ có thể gặp phải.

Song song với đó là sự vào cuộc cùng giáo dục, quản lý trẻ từ gia đình, nhà trường và xã hội mới có thể xây dựng được một môi trường mạng an toàn, lành mạnh.