“Thái”, “vô” thay đổi sắc thái trong từng từ
Theo TS Phạm Văn Lam, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, thái là một yếu tố Hán Việt có nhiều nghĩa như “to lớn”, “rất, quá”, “yên ổn”, “vẻ” hay “tốt đẹp”.
Trong “thái bình”, yếu tố thái có thể được hiểu theo hai cách tùy theo chữ viết. Với chữ có nghĩa là “rất, lắm”, “thái bình” được hiểu là rất yên ổn, hòa bình. Với chữ mang nghĩa “bình an”, như trong cụm “quốc thái dân an”, “thái bình” chỉ sự bình an, hòa bình nói chung; còn “quốc thái” có nghĩa là đất nước thanh bình.
Trong các từ “thái úy”, “thái sư”, yếu tố thái từ nghĩa gốc “rất, lắm” phát triển thêm nét nghĩa “lớn, cả, trên hết”. “Thái úy” là chức võ quan đứng đầu, có cấp bậc cao nhất trong triều đình phong kiến; “thái sư” là chức quan văn đứng đầu. Thái sư, thái phó và thái bảo được gọi chung là “tam thái” hoặc “tam công”.
Trong khi đó, vô trong “vô tư”, “vô số”, “vô hạn”, “vô tình” đều có nghĩa cơ bản là “không”, nhưng mỗi từ lại biểu thị một nội dung khác nhau.
“Vô tư” có thể chỉ trạng thái không lo nghĩ nhiều, hồn nhiên hoặc không vụ lợi, thiên vị; “vô số” là số lượng rất lớn, không kể hết; “vô hạn” là không có điểm dừng hoặc vượt quá giới hạn có thể đo đếm. “Vô tình” có thể được hiểu là không có ý định từ trước hoặc không có tình cảm, lạnh lùng.
“Hữu” không phải lúc nào cũng có nghĩa là “có”
Yếu tố hữu trong “hữu tình”, “hữu cơ” mang nghĩa là “có”, nhưng hữu trong “hữu hảo” lại có nghĩa là “bạn”.
“Hữu tình” có thể chỉ sự có tình cảm, có khả năng khơi gợi cảm xúc hoặc có tri giác, tâm thức.
“Hữu cơ” phổ biến với nghĩa các bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong khoa học, “hữu cơ” còn được dùng để chỉ những hợp chất của carbon tạo nên cơ thể động, thực vật. Ngày nay, từ này thường xuất hiện trong các cụm như “nông nghiệp hữu cơ”, “thực phẩm hữu cơ”, chỉ phương thức sản xuất hạn chế phân bón hóa học, thuốc trừ sâu tổng hợp và chất kích thích tăng trưởng.
Còn “hữu hảo” mang nghĩa tốt đẹp, thân ái, thân thiện và hòa hợp.
Khánh trong "khánh thành" và "khánh kiệt" mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau
Khánh trong “khánh thành” không cùng nghĩa với khánh trong “khánh kiệt”.
Trong “khánh thành” và “quốc khánh”, yếu tố này mang nghĩa “mừng”, “chào mừng” hoặc “việc mừng, lễ mừng”. “Khánh thành” là việc mừng một công trình đã hoàn thành và chính thức được đưa vào sử dụng. “Quốc khánh” là ngày lễ lớn của một quốc gia, kỷ niệm ngày thành lập nước hoặc ngày giành độc lập.
Ngược lại, khánh trong “khánh kiệt” có nghĩa là hết sạch, hết nhẵn; còn “kiệt” mang nghĩa cạn. Vì vậy, “khánh kiệt” chỉ tình trạng hết sạch của cải, tài sản hoặc cạn kiệt hoàn toàn.
