Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 10/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Các đại biểu cơ bản tán thành việc sửa đổi luật nhằm khắc phục vướng mắc, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và cải cách thủ tục giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, những thay đổi này chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp người bị thiệt hại dễ thực hiện quyền yêu cầu, nhận tiền đúng hạn và khôi phục đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp.
Cắt giảm thủ tục nhưng không cắt giảm quyền của người dân
Một trong những vấn đề được quan tâm là mối quan hệ giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với các luật chuyên ngành.
Đại biểu Hoàng Thị Thu Trang (Đoàn ĐBQH Nghệ An) cho rằng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần giữ vai trò là luật nền, quy định thống nhất về chế độ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết. Luật chuyên ngành chỉ nên quy định khác trong những trường hợp thực sự đặc thù và cần thiết.
Nếu quy định về bồi thường nằm rải rác ở nhiều văn bản, người dân sẽ gặp khó khăn khi tra cứu và thực hiện quyền. Ngược lại, nếu đưa toàn bộ trường hợp phát sinh trong các luật chuyên ngành vào luật này, Quốc hội có thể phải thường xuyên sửa đổi. Do đó, dự thảo cần xác định rõ nguyên tắc áp dụng, tránh dẫn chiếu vòng quanh hoặc cùng một nội dung được quy định khác nhau tại nhiều văn bản.
Đại biểu Hà Sỹ Huân (Đoàn ĐBQH Thái Nguyên) đề nghị nghiên cứu chuyển từ phương pháp liệt kê cứng từng trường hợp được bồi thường sang cách quy định có tính khái quát, ổn định hơn. Nếu chỉ liệt kê, có thể xuất hiện hành vi công vụ trái pháp luật gây thiệt hại nhưng chưa thuộc danh mục, khiến quyền lợi của người dân bị bỏ sót.
Bên cạnh phạm vi bồi thường, thủ tục giải quyết phải được thiết kế theo hướng dễ tiếp cận. Đại biểu Nguyễn Tiến Nam (Đoàn ĐBQH Huế) nhấn mạnh nguyên tắc cải cách là “cắt giảm thủ tục của cơ quan nhà nước chứ không cắt giảm quyền của người dân”.
Việc phân cấp, chuyển hồ sơ hoặc rút ngắn thành phần giấy tờ phải đi kèm trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan. Không nên để người yêu cầu bồi thường phải đi lại nhiều lần hoặc chịu hậu quả do các đơn vị đùn đẩy. Những vấn đề cốt lõi liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giải quyết cần được quy định ngay trong luật; Chính phủ chỉ hướng dẫn các nội dung mang tính kỹ thuật.
Cùng quan điểm lấy quyền lợi người dân làm trung tâm, đại biểu Hà Sỹ Huân đề nghị bổ sung nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Nguyên tắc này cần được thể hiện xuyên suốt từ khâu tiếp nhận hồ sơ, xác minh thiệt hại, thương lượng đến ban hành và thi hành quyết định.
Về thời điểm quyết định bồi thường có hiệu lực, đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn ĐBQH Nghệ An) cho rằng không nên kéo dài lên 60 ngày. Người bị thiệt hại thường đã trải qua quá trình giải quyết lâu dài và cần sớm nhận tiền để khắc phục hậu quả.
Đại biểu đề nghị cân nhắc thời hạn 30 ngày, đồng thời bổ sung chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại và xác minh thực tế vào những khoản được Nhà nước chi trả hoặc bồi hoàn. Việc rút ngắn thời gian phải đi cùng với bảo đảm đầy đủ các chi phí hợp lý mà người dân đã bỏ ra để chứng minh thiệt hại.
Bồi thường phải đầy đủ và kịp thời
Các đại biểu Quốc hội cho rằng cơ chế bồi thường chỉ thực chất khi người dân có thể chứng minh thiệt hại, được xác định mức bồi thường phù hợp và nhận tiền đúng hạn.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH Hải Phòng) đề nghị bổ sung nguyên tắc người yêu cầu bồi thường không phải chịu bất lợi nếu tài liệu, chứng cứ thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước bị mất hoặc thất lạc.
Khi hồ sơ lưu trữ không đầy đủ, cơ quan giải quyết phải chủ động xác minh từ các nguồn thông tin hợp pháp khác, thay vì chuyển gánh nặng chứng minh sang người dân. Nhà nước không nên được hưởng lợi từ việc cơ quan nhà nước không còn lưu giữ tài liệu mà mình có trách nhiệm quản lý.
Đại biểu cũng đề nghị xem xét lại quy định chấm dứt quyền nhận tiền sau ba năm nếu người được bồi thường không đến nhận. Khoản tiền này là quyền tài sản đã được xác lập bằng quyết định hoặc bản án có hiệu lực. Việc hoàn trả tiền vào ngân sách chỉ nên là biện pháp quản lý tài chính, không nên làm mất quyền nhận tiền hoặc quyền thừa kế hợp pháp.
Thời điểm xác định giá trị thiệt hại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người dân. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH Vĩnh Long) cho rằng nếu áp dụng cứng thời điểm thụ lý hồ sơ, người bị thiệt hại có thể chịu thiệt do giá tài sản biến động trong quá trình giải quyết.
Đối với bất động sản, cổ phiếu hoặc hàng hóa kinh doanh, cần có cơ chế cập nhật khi giá thị trường thay đổi đáng kể trước thời điểm hoàn tất thương lượng hoặc xét xử. Nếu không, mức bồi thường được xác định ban đầu có thể không còn tương xứng với giá trị thiệt hại khi người dân thực sự nhận tiền.
Mức bồi thường thiệt hại tinh thần cũng cần phù hợp với mức độ tổn hại thực tế, nhất là trường hợp thương tật nặng hoặc ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động.
Đại biểu Hà Sỹ Huân (Đoàn ĐBQH Thái Nguyên) cho rằng khái niệm “mức độ sức khỏe bị tổn hại” còn mang tính định tính. Nếu luật chỉ quy định mức trần mà không có tiêu chí phân loại, những trường hợp có mức độ tổn hại khác nhau có thể được áp dụng mức bồi thường thiếu tương xứng. Dự thảo cần làm rõ các căn cứ như tỷ lệ tổn thương cơ thể, mức suy giảm khả năng lao động và ảnh hưởng thực tế đối với đời sống.
Một nội dung khác được quan tâm là trách nhiệm bồi thường khi cơ quan nhà nước cung cấp thông tin sai lệch rồi thực hiện đính chính. Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH Lâm Đồng) cho rằng đính chính có thể làm giảm thiệt hại hoặc ngăn thiệt hại tiếp tục phát sinh, nhưng không khiến phần thiệt hại đã xảy ra trước đó đương nhiên biến mất.
Trách nhiệm bồi thường phải được xem xét trên cơ sở hành vi trái pháp luật, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả, không chỉ căn cứ vào việc thông tin đã được sửa lại hay chưa. Vì vậy, dự thảo cần phân biệt rõ giữa biện pháp khắc phục hậu quả và căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường.
Về kinh phí, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị duy trì đầu mối lập dự toán tập trung tại cơ quan tài chính, thay vì phân tán cho từng đơn vị. Số vụ việc và mức thiệt hại khó dự báo trước; nếu chia nhỏ nguồn lực, việc điều phối khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường có thể gặp khó khăn.
Theo đại biểu, luật cần quy định cơ chế cấp bổ sung khi dự toán không đủ, xác định thời hạn xử lý cụ thể và không được viện lý do thiếu kinh phí để trì hoãn quyền nhận tiền của người dân. Việc chưa bố trí đủ hoặc đang làm thủ tục bổ sung dự toán không thể trở thành lý do kéo dài nghĩa vụ chi trả đã được xác lập.
Giải trình cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết quan điểm xuyên suốt khi sửa luật là lấy người dân và quyền lợi của người bị thiệt hại làm trung tâm, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và cải cách thủ tục hành chính.
Theo Bộ trưởng, phương án cho phép luật chuyên ngành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường sẽ giúp Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước giữ vai trò là “luật khung nhưng không bị đóng khung”, tránh phải liên tục sửa đổi mỗi khi xuất hiện chính sách mới.
Tuy nhiên, do các đại biểu còn có những cách tiếp cận khác nhau, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với cơ quan thẩm tra tiếp tục nghiên cứu, lựa chọn phương án vừa bảo đảm tính ổn định của luật, vừa giúp người dân dễ tra cứu và thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
Cơ quan soạn thảo cũng sẽ tiếp thu các ý kiến về trình tự, thủ tục, xác định thiệt hại và cơ chế chi trả để tiếp tục hoàn thiện dự thảo trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.
