Sáng 10/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Phát biểu điều hành tại hội trường sáng ngày 10/8, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho rằng, sau hơn 12 năm thi hành, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn tranh chấp trong cộng đồng dân cư, giữ gìn đoàn kết, ổn định xã hội và giảm tải các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trong tình hình mới có những quy định không còn phù hợp, việc sửa đổi Luật lần này nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát huy các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, đáp ứng yêu cầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp tổ dân phố, đồng thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) gồm 5 chương, 35 điều, tập trung sửa đổi bổ sung các quy định về phạm vi hòa giải, tổ chức hoạt động của tổ hòa giải và hòa giải viên, quyền nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đáp ứng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và hòa giải trực tuyến, trách nhiệm của chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chỉ định hòa giải viên trong một số trường hợp cần thiết, chuyển từ cơ chế nhà nước hỗ trợ sang nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết, tại phiên thảo luận tổ ngày 5/8, đã có 99 lượt ý kiến phát biểu. Thảo luận tại hội trường ngày 10/8, 22 đại biểu tiếp tục đóng góp vào dự thảo Luật, trong đó tập trung về chính sách của nhà nước và bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở được quy định tại điều 5 và điều 6; về tiêu chuẩn bầu chỉ định và kiện toàn hòa giải viên tổ hòa giải và về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và hòa giải trực tuyến.
Tại phiên thảo luận, Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm (ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) đóng góp ý kiến về việc hoàn thiện điều 25 liên quan đến hình thức hòa giải trực tuyến. Ông cho rằng, điểm đặc biệt của hòa giải cơ sở là chúng ta không chỉ giải quyết một tranh chấp mà còn phải giữ lại một mối quan hệ. Vì vậy, nhìn nhận hòa giải cơ sở chính là một tầng phòng ngự xã hội từ sớm, từ cơ sở. Điều 25 đã cho phép hòa giải bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp. Quy định này rất phù hợp với thực tiễn hiện nay. Ví dụ, một gia đình ở địa phương có tranh chấp lối đi chung, một người con đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, một người đang ở địa phương, nếu bắt buộc tất cả phải trở về để gặp trực tiếp thì có thể phải chờ đến vài tuần. Nhưng bằng một cuộc họp trực tuyến, tổ hòa giải có thể kết nối ngay các bên, công nghệ ở đây giúp rút ngắn khoảng cách và giải quyết mâu thuẫn sớm hơn.
Tuy nhiên, chính ví dụ đó cũng đặt ra một vấn đề khác. Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm lo ngại: “Giả sử trong cuộc hòa giải trực tuyến, một bên âm thầm dùng điện thoại khác để ghi hình, sau đó cắt một đoạn phát biểu đưa lên mạng xã hội hoặc gửi vào nhóm dân cư; hoặc phía sau màn hình có người thứ ba đang nghe toàn bộ câu chuyện nhưng bên còn lại không hề biết; hoặc hình ảnh, giọng nói, thông tin về tài sản, gia đình, nguyên nhân tranh chấp được lưu lại và chuyển cho người khác. Khi đó, một cuộc hòa giải vốn được tổ chức hàn gắn quan hệ lại có khi trở thành nguyên nhân của mâu thuẫn mới”
Do đó, đại biểu nhấn mạnh: "Điều quan trọng hơn là khi đưa hòa giải lên môi trường số, chúng ta phải giữ được những giá trị làm nên hiệu quả của cuộc hòa giải từ cơ sở. Vì vậy đề nghị cần ghi ngay trong luật một số nguyên tắc tối thiểu thể hiện qua ba nội dung. Thứ nhất, hòa giải trực tuyến phải có sự đồng thuận của các bên. Không nên vì thuận lợi về công nghệ mà biến hình thức trực tuyến thành một lựa chọn áp đặt đối với người dân. Thứ hai, phải bảo đảm xác định rằng đúng người tham gia và kiểm soát người được phép có mặt trong phiên hòa giải. Mục tiêu không phải tạo nên một thủ tục xác thực phức tạp mà là bảo đảm các bên biết rõ mình đang trao đổi với ai, ai đang được tiếp cận những nội dung hòa giải. Thứ ba, việc ghi âm, ghi hình, sao chép, lưu trữ hoặc cung cấp nội dung trong phiên hòa giải cho người khác phải có sự đồng ý của các bên trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời phải tuân thủ yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin”.
Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin, đại biểu Phạm Văn Hòa (ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) cũng bày tỏ băn khoăn về tính hiệu quả của hòa giải trực tuyến. Bởi đặc thù của công tác hòa giải là cần sự tiếp xúc trực tiếp giữa các bên và người trung gian để hàn gắn tình cảm. Việc lạm dụng trực tuyến hóa, cộng với những hạn chế về đường truyền ở cơ sở, có thể khiến cuộc hòa giải trở nên hình thức và khó đạt kết quả.
Quan tâm về nội dung này, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà (ĐBQH tỉnh Quảng Ninh) nhận thấy dự thảo luật đã mở rộng việc tham gia hòa giải và cho phép hòa giải trực tuyến, công nhận kết quả hòa giải dưới dạng thông điệp dữ liệu, khuyến khích sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số; đồng thời phân định lại trách nhiệm quản lý nhà nước phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, theo đại biểu mức độ đổi mới về phương thức hoạt động trong dự thảo đang đi nhanh hơn so với cơ chế kiểm soát rủi ro và các điều kiện bảo đảm thi hành.
Bên cạnh nội dung về ứng dụng công nghệ trong công tác hòa giải, tại phiên thảo luận về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị cơ chế phân bổ kinh phí phải tính đến đặc điểm địa bàn, chi phí thực tế của hoạt động hòa giải, không áp dụng bình quân; đồng thời kiến nghị tách riêng kinh phí hòa giải trong dự toán ngân sách, đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán và ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới.
Theo các đại biểu, hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang ý nghĩa xã hội rất lớn. Khi hoạt động hòa giải ở cơ sở có hiệu quả sẽ góp phần giảm số lượng vụ việc phải đưa đến tòa án, từ đó tiết kiệm ngân sách nhà nước, tiết kiệm chi phí của xã hội và của người dân. Quan trọng hơn, hoà giải ở cơ sở góp phần giữ gìn trật tự ở địa phương, giữ gìn tình làng nghĩa xóm và hạnh phúc của từng gia đình.
Vì vậy các ý kiến cũng bày tỏ tán thành với việc chuyển từ cơ chế Nhà nước “hỗ trợ” sang “bảo đảm kinh phí” từ ngân sách nhà nước trong khả năng cân đối ngân sách cho công tác hoà giải ở cơ sở.
Quan tâm đến kinh phí cho hoạt động hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, đại biểu Nguyễn Đặng Ân (ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) đánh giá cao cơ quan soạn thảo xây dựng luật với nhiều quy định phù hợp đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc; bố trí hòa giải viên là người dân tộc thiểu số; bố trí người phiên dịch; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín.
Tuy nhiên, để thực hiện được những nội dung này, theo đại biểu Nguyễn Đặng Ân thì phải có kinh phí và nguồn lực tương ứng. Đại biểu phân tích, điều kiện hoạt động của một tổ hòa giải ở địa bàn đô thị, nơi dân cư tập trung rất khác so với một tổ hòa giải tại xã miền núi, biên giới, nơi địa bàn rộng, dân cư phân tán và có nhiều thành phần dân tộc. Chi phí đi lại khác nhau, yêu cầu về ngôn ngữ, tài liệu tập huấn khác nhau và khả năng tiếp cận công nghệ cũng khác nhau. Do đó, đại biểu đề nghị khi hoàn thiện Điều 6 về kinh phí và Điều 32 về trách nhiệm của chính quyền địa phương cần bảo đảm một nguyên tắc là việc phân bổ nguồn lực phải tính đến đặc điểm địa bàn và chi phí thực tế của hoạt động hòa giải, không nên chỉ áp dụng một cơ chế bình quân.
Đối với nguồn lực dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, đây là những địa bàn mà vai trò “đi trước một bước” của hòa giải ở cơ sở càng có ý nghĩa quan trọng.
Mặc dù dự thảo đã thể chế hóa nhiều cơ chế phù hợp với đặc thù về con người, ngôn ngữ và điều kiện địa bàn, song vấn đề ưu tiên ngân sách cho các khu vực này vẫn cần được cụ thể hóa hơn. Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh kiến nghị Chính phủ, khi ban hành nghị định quy định chi tiết Điều 6, cần đưa địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thành tiêu chí ưu tiên trong công thức phân bổ và định mức chi.Theo đại biểu, việc này sẽ giúp những cơ chế đặc thù về hòa giải viên, người có uy tín, ngôn ngữ, phiên dịch và phương thức tổ chức hòa giải có đủ nguồn lực để vận hành trên thực tế.
Tại nghị trường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình bày báo cáo tiếp thu và giải trình các ý kiến của đại biểu về dự án Luật hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), trong đó nội dung trọng tâm là việc kiện toàn đội ngũ hòa giải viên thông qua cơ chế bầu và chỉ định, xác định rõ phạm vi các vụ việc được phép hòa giải, đồng thời đề xuất ứng dụng công nghệ thông tin và chính sách hỗ trợ kinh phí cho các vùng khó khăn.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở sửa đổi tiếp tục mở hướng ứng dụng công nghệ, trong đó có hòa giải trực tuyến, nhưng không áp dụng cứng nhắc. Việc triển khai phải phù hợp điều kiện thực tiễn, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng công nghệ còn hạn chế. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các nguyên tắc để bảo đảm hình thức hòa giải này chặt chẽ, đúng mục đích.
“Chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện thêm, có một số nội dung cụ thể có thể cũng phải cần quy định ở văn bản dưới luật; trong dự thảo luật cũng đã quy định việc áp dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn.”- Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh.
Giá trị lớn nhất của hòa giải ở cơ sở không nằm ở số lượng biên bản được lập mà ở khả năng khôi phục sự đồng thuận, giữ gìn quan hệ cộng đồng và ngăn ngừa tranh chấp phức tạp. Vì vậy, Luật Hòa giải ở cơ sở cần hiện đại nhưng không "hành chính hóa", ứng dụng công nghệ nhưng phải lấy con người làm trung tâm, tăng trách nhiệm nhưng phải bảo đảm nguồn lực và cơ chế bảo vệ người thực hiện.
