Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 10/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi luật nhằm tháo gỡ vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính và thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động quốc tế. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không nên chỉ đánh giá bằng số người được đưa ra nước ngoài, mà phải dựa trên chi phí họ phải bỏ ra, điều kiện làm việc, khả năng được hỗ trợ khi gặp rủi ro và cơ hội phát huy kỹ năng sau khi trở về.

Bảo vệ người lao động trước, trong và sau khi ra nước ngoài

Một trong những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm là chi phí tuyển chọn, đào tạo và chuẩn bị xuất cảnh. Người lao động thường ở vị thế yếu hơn doanh nghiệp, thiếu thông tin, trong khi nhiều trường hợp phải vay tiền để tham gia chương trình.

Đại biểu Chu Lương Trí (Đoàn ĐBQH Quảng Ninh) đề nghị kiểm soát tổng thể chi phí mà người lao động phải bỏ ra trước khi xuất cảnh, thay vì chỉ xem xét từng khoản riêng lẻ. Người lao động cần được cung cấp đầy đủ thông tin về số tiền phải nộp, đơn vị thu và mục đích sử dụng, tránh tình trạng chia nhỏ hoặc thay đổi tên gọi các khoản thu để vượt mức quy định.

Theo đại biểu, mục tiêu của chính sách không chỉ là đưa được bao nhiêu người đi làm việc ở nước ngoài. Quan trọng hơn, người lao động phải được đi với chi phí hợp lý, được bảo vệ trong thời gian làm việc và có thể phát huy kỹ năng sau khi trở về.

Cùng quan tâm đến quyền lợi tài chính của người lao động, đại biểu Dương Mạc Kiên (Đoàn ĐBQH Cao Bằng) đề nghị luật hóa quyền được hoàn trả tiền nếu người lao động không thể xuất cảnh do nguyên nhân không thuộc về mình. Nội dung này không nên chỉ phụ thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng, nhất là khi hợp đồng thường do doanh nghiệp xây dựng, còn người lao động nông thôn, miền núi và người dân tộc thiểu số gặp nhiều bất lợi khi thương lượng.

Luật cần xác định rõ các khoản phải hoàn trả và thời hạn thực hiện để người lao động có căn cứ bảo vệ tài sản khi xảy ra tranh chấp. Dự thảo cũng cần có quy định chuyển tiếp, không để các chương trình lao động thời vụ và những thỏa thuận đã ký rơi vào khoảng trống pháp lý khi chính sách cũ hết hiệu lực.

Đại biểu Đặng Thị Mỹ Hương (Đoàn ĐBQH Khánh Hòa) đồng tình với quy định doanh nghiệp chỉ được thu phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ sau khi người lao động được phía nước ngoài tuyển chọn. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ cách xử lý nếu người lao động đã tham gia đào tạo nhưng cuối cùng không thể xuất cảnh vì nguyên nhân khách quan.

Đại biểu cũng đề nghị quy định đầu mối tiếp tục hỗ trợ người lao động đang ở nước ngoài nếu doanh nghiệp đưa đi mất khả năng thực hiện nghĩa vụ hoặc phá sản. Cơ sở dữ liệu lao động ngoài nước phải được khai thác để cảnh báo sớm những doanh nghiệp hoặc thị trường có dấu hiệu bất thường, thay vì chỉ phục vụ lưu trữ và báo cáo.

Bảo vệ người lao động cũng không thể dừng lại ở thời điểm xuất cảnh. Đại biểu Đào Chí Nghĩa (Đoàn ĐBQH Cần Thơ) dẫn thực tế người lao động ở nước ngoài có thể bị giữ hộ chiếu, nợ lương, bạo hành, tai nạn lao động hoặc gặp khó khăn khi doanh nghiệp tiếp nhận phá sản, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh xảy ra.

Do đó, cần xác lập quy trình phối hợp giữa doanh nghiệp dịch vụ, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Với vụ việc ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và quyền lợi của người lao động, phải quy định cụ thể thời hạn tiếp nhận, xử lý, báo cáo và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bố trí kinh phí khẩn cấp để hỗ trợ hoặc đưa người lao động về nước.

Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị mở rộng trách nhiệm hỗ trợ pháp lý đối với trường hợp người lao động bị nợ lương, giữ giấy tờ, đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc gặp tai nạn lao động. Doanh nghiệp phải tư vấn pháp luật và hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý khi quyền lợi bị xâm phạm.

Để phòng ngừa rủi ro từ sớm, đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH Lâm Đồng) cho rằng văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người lao động phải thể hiện rõ thị trường dự kiến, tiêu chuẩn tuyển chọn, thời gian xuất cảnh, các khoản chi phí và nguyên tắc hoàn trả nếu người lao động không thể đi.

Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm cũng phải đi kèm cơ chế cảnh báo, ngăn chặn kịp thời. Hậu kiểm là cần thiết, nhưng với những nguy cơ có thể gây hậu quả không thể khắc phục đối với tính mạng và quyền lợi của người lao động, cơ quan quản lý không thể chờ vi phạm xảy ra mới xử lý.

Cùng quan điểm, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH Vĩnh Long) đề nghị hệ thống dữ liệu tự động cảnh báo khi doanh nghiệp xuất hiện nhiều phản ánh, chi phí bất thường hoặc dấu hiệu vi phạm. Nội dung giáo dục định hướng cho lao động nữ làm giúp việc gia đình, chăm sóc và các nghề có tính biệt lập cần hướng dẫn cách nhận diện quấy rối, cưỡng bức lao động, mua bán người; đồng thời cung cấp phương thức báo tin an toàn và địa chỉ hỗ trợ khẩn cấp.

Đưa nhân lực chất lượng cao đi để trở về phục vụ đất nước

Bên cạnh yêu cầu bảo vệ người lao động, các đại biểu dành nhiều thời gian thảo luận về chính sách ưu tiên đưa người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ra nước ngoài làm việc.

Đại biểu Ngô Trung Thành (Đoàn ĐBQH Đắk Lắk) cho rằng đây có thể là cơ hội để người lao động tiếp cận công nghệ, phương thức quản trị và môi trường làm việc tiên tiến. Tuy nhiên, Việt Nam hiện không dư thừa, thậm chí đang thiếu nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, y tế và năng lượng.

Vì vậy, chính sách cần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu phát triển của từng ngành. Nếu xác định bán dẫn là lĩnh vực mũi nhọn, phải làm rõ trong 5 năm tới cần bao nhiêu kỹ sư, chuyên gia; bao nhiêu người cần đưa ra nước ngoài; đào tạo ở đâu, tại khâu nào và khi trở về sẽ đảm nhận công việc gì. Cách tiếp cận tương tự cũng cần áp dụng với trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi, công nghệ sinh học và năng lượng mới.

Nếu được tổ chức bài bản, việc đưa người lao động ra nước ngoài sẽ không chỉ tạo việc làm, thu nhập, mà còn trở thành phương thức học hỏi công nghệ, tích lũy tri thức và đào tạo đội ngũ chuyên gia cho đất nước.

Đại biểu Trần Văn Lâm (Đoàn ĐBQH Bắc Ninh) lưu ý phải bảo đảm sự hài hòa giữa nhu cầu tham gia thị trường lao động quốc tế với yêu cầu giữ nguồn nhân lực cho nền kinh tế trong nước. Nếu ưu tiên đưa lao động trình độ cao ra nước ngoài nhưng thiếu cơ chế thu hút trở về, các doanh nghiệp trong nước có thể phải cạnh tranh gay gắt hơn trong tuyển dụng, làm tăng chi phí đào tạo và ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định theo hướng khuyến khích nâng cao chất lượng người lao động tham gia thị trường quốc tế, gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và nhu cầu kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Đồng thời, cần có cơ chế kết nối, sử dụng người lao động sau khi trở về để kiến thức, kinh nghiệm và tác phong công nghiệp tích lũy ở nước ngoài tiếp tục được phát huy.

Từ góc độ đào tạo, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn ĐBQH Hà Nội) đề nghị nghiên cứu cho phép các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường cao đẳng, đại học đủ điều kiện được trực tiếp đưa sinh viên ra nước ngoài thực tập, làm việc đúng chuyên môn. Cơ chế này có thể giảm chi phí trung gian, gắn đào tạo với việc làm và hình thành lực lượng lao động trẻ có kỹ năng, ngoại ngữ, kinh nghiệm quốc tế.

Tuy nhiên, việc mở rộng chủ thể đưa người lao động ra nước ngoài phải đi kèm tiêu chuẩn cấp phép chặt chẽ. Chỉ những cơ sở có chương trình liên kết được kiểm định, đối tác tiếp nhận rõ ràng và khả năng quản lý người học mới được tham gia; đồng thời phải áp dụng hậu kiểm và chế tài nghiêm nếu để xảy ra sai phạm.

Đại biểu Nguyễn Vũ Trung (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đề xuất xây dựng hệ thống thông tin để người lao động có thể kiểm tra doanh nghiệp có được phép tuyển dụng hay không, đơn hàng có thật không, địa điểm làm việc, mức lương, tổng chi phí và đầu mối chịu trách nhiệm. Hậu kiểm cũng phải dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, tập trung thanh tra những doanh nghiệp có nhiều phản ánh hoặc dấu hiệu vi phạm.

Theo đại biểu, thành công của luật không nên chỉ được đo bằng số người ra nước ngoài, mà phải tính đến số người được đi minh bạch, làm việc an toàn, có thu nhập và kỹ năng cao hơn; khi trở về trở thành nguồn nhân lực có giá trị cho đất nước.

Giải trình cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết dự thảo hướng tới chính sách kép: vừa đưa lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài, vừa xây dựng cơ chế thu hút và phát huy hiệu quả nhóm lao động này khi trở về.

Theo Bộ trưởng, dự thảo lần này chuyển sang chủ động chuẩn bị nhân lực cho các lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Trọng tâm của chính sách là kết nối người lao động trở về với công việc phù hợp với kinh nghiệm và kỹ năng đã tích lũy, qua đó hình thành vòng tuần hoàn nguồn nhân lực.

Về công tác bảo vệ người lao động, Bộ trưởng cho rằng cơ chế phối hợp phòng ngừa rủi ro phải được triển khai ngay từ khi người lao động còn ở trong nước, đặc biệt đối với lao động nữ và người dân tộc thiểu số. Dự thảo mới nhất cũng bổ sung quy định doanh nghiệp phải có người đại diện ở nước ngoài để kịp thời hỗ trợ, xử lý các vấn đề phát sinh.

Bộ trưởng Nguyễn Tiến Hải cho biết cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu ý kiến đại biểu, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục hoàn thiện dự án luật trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.