Là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, chính sách Bảo hiểm xã hội được Đảng, Nhà nước ta chú trọng chỉ đạo thực hiện, tạo động lực mạnh mẽ để ngày càng nhiều người được tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH. Tính đến thời điểm này, cả nước có khoảng 20 triệu người tham gia BHXH, đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi.
Những khoản thu nhập nào được tính đóng BHXH?
Ông Nguyễn Mạnh Tiến - Ban Quản lý thu và phát triển người tham gia – Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết: Tại khoản 1, Điều 7, Nghị định 158/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.
Thử việc có phải tham gia BHXH?
Bộ luật lao động/2019 quy định: Người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ hoặc giao kết hợp đồng thử việc, trong đó có nội dung về thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc. Người lao động chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và thời gian thử việc của người lao động được quy định tại Điều 27 Bộ luật Lao động, cụ thể:
Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vàn sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
Đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên: Không quá 60 ngày.
Đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ: Không quá 30 ngày.
Đối với công việc khác: Không quá 06 ngày.
Như vậy, người sử dụng lao động giao kết HĐLĐ từ 1 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, kể cả lao động thử việc,./.
