Trong lịch sử văn hóa và chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức là một nhân vật đặc biệt tiêu biểu. Ông không chỉ là công thần có nhiều đóng góp trong buổi đầu xây dựng vương triều Nguyễn mà còn là học giả lớn, nhà thơ, nhà sử học và nhà địa chí có ảnh hưởng sâu rộng đối với lịch sử văn hóa Nam Bộ.

Theo sử sách, Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, quê ở vùng Gia Định xưa, nay thuộc TP Đồng Nai. Tổ tiên ông vốn là người Phúc Kiến di cư sang Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn. Cha ông là Trịnh Khánh, từng phục vụ trong bộ máy của chúa Nguyễn. Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, giỏi chữ Hán và có năng khiếu văn chương.

Sau khi cha mất, năm lên 10 tuổi, ông theo mẹ vào Gia Định sinh sống và theo học danh sư Võ Trường Toản. Cùng học với ông còn có Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh. Về sau ba người được hậu thế gọi là “Gia Định tam gia”, đại diện tiêu biểu cho văn học Hán Nôm Nam Bộ đầu thời Nguyễn.

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động cuối thế kỷ XVIII, Trịnh Hoài Đức sớm lựa chọn phò tá Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1788, ông đỗ đạt trong khoa thi tuyển hiền tài ở Gia Định và được bổ làm Hàn lâm chế cáo, bắt đầu con đường quan lộ bằng tài năng và học vấn thực sự.

Suốt hơn hai mươi năm dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng, ông kinh qua nhiều trọng trách lớn: từ Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lại đến Hiệp Tổng trấn Gia Định Thành, rồi Chánh sứ sang nhà Thanh. Với những tư liệu nghiên cứu của mình, PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học nhìn nhận: “Trịnh Hoài Đức là người sớm theo triều Nguyễn, sớm theo Gia Long và hoạt động từ giai đoạn khởi đầu, trở thành người góp công đầu với triều Nguyễn. Trong hơn 20 năm làm quan trong triều, ông là người hết sức liêm khiết, chí công vô tư”.

Không chỉ nổi bật ở tài năng chính trị, Trịnh Hoài Đức còn được hậu thế kính trọng bởi nhân cách thanh liêm và lối sống chính trực. Sử sách ghi lại rằng, khi xin về hưu năm 1823, ông gần như không có tài sản riêng. Vua Minh Mạng phải ban tiền cùng vật liệu để ông dựng nhà ở Huế và 2 năm sau ông qua đời.

Là một vị quan thanh liêm, chính trực, Trịnh Hoài Đức còn để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực học thuật với tác phẩm nổi tiếng “Gia Định thành thông chí”. Đây được xem là công trình địa chí lớn đầu tiên về Nam Bộ đầu thế kỷ XIX. Bộ sách gồm sáu quyển, ghi chép toàn diện về vùng Gia Định và Nam Bộ: từ địa lý, sông núi, thành lũy, phong tục tập quán đến sản vật, con người và đời sống văn hóa. Theo PGS.TS Đỗ Lai Thúy, Viện trưởng Viện Nhân học Văn hóa, cho đến hôm nay, “Gia Định thành thông chí” vẫn là tài liệu kinh điển đối với giới nghiên cứu Nam Bộ.

Qua những tư liệu trong bộ sách càng cho thấy, không chỉ là công trình khảo cứu thuần túy, “Gia Định thành thông chí” còn phản ánh tư duy quản lý quốc gia và tầm nhìn chiến lược của triều Nguyễn đối với phương Nam, coi đây là vùng đất giữ vai trò căn cứ địa quan trọng trong quá trình phục quốc và mở rộng quốc gia. Đặc biệt, tác phẩm còn cho thấy sự tiếp nối truyền thống học thuật địa chí từ các học giả Bắc Hà như Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Qua đó, Trịnh Hoài Đức đã tạo nên nhịp cầu văn hóa nối liền Gia Định – Nam Bộ với truyền thống văn hiến Thăng Long – Hà Nội. Từ cuối thế kỷ XIX, “Gia Định thành thông chí” đã được dịch và xuất bản tại Paris (Pháp), trở thành tư liệu quý giá đối với giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và Nam Bộ.

Nếu sự nghiệp chính trị khiến Trịnh Hoài Đức trở thành công thần của triều Nguyễn, thì tác phẩm “Gia Định thành thông chí” lại khiến ông trở thành người lưu giữ hồn cốt của phương Nam cho muôn đời sau.

Cùng với sự nghiệp chính trị và sử học, Trịnh Hoài Đức còn là một nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn của Trịnh Hoài Đức vừa mang vẻ khoáng đạt của vùng đất phương Nam, vừa thấm đẫm tinh thần văn hiến của truyền thống Nho học Bắc Hà. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị như: “Cấn Trai thi tập”, “Bắc sứ thi tập”, “Gia Định tam gia thi tập” và “Đi sứ cảm tác”. Đặc biệt, tập “Bắc sứ thi tập” được xem là sự tiếp nối dòng thơ đi sứ lâu đời của văn học Việt Nam, từ truyền thống Thăng Long đến thời Nguyễn.

Năm 1825, Trịnh Hoài Đức qua đời tại Huế, hưởng thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng bãi triều ba ngày để tưởng niệm và truy tặng ông tước vị cao quý: Thiếu bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, ban thụy hiệu Văn Khắc…. Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất dành cho ông chính là sự kính trọng của hậu thế suốt hơn hai trăm năm qua. Tên tuổi Trịnh Hoài Đức hôm nay hiện diện trên những con đường, trường học như một sự tri ân đối với những đóng góp to lớn cho đất nước và văn hóa Việt Nam.Ông để lại cho hậu thế không chỉ những trang sử mà còn là tấm gương về nhân cách cùng tinh thần tận trung, tận hiến cho dân tộc, cho nhân dân.

Khu lăng mộ của Trịnh Hoài Đức tại Đồng Nai đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.