Sáng 16/5, Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội) tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc gia 2026 với chủ đề “Giảng dạy ngoại ngữ trong bối cảnh đổi mới giáo dục".
Hội thảo ghi nhận 155 báo cáo, trong đó tập trung vào các hướng nghiên cứu như ứng dụng AI, công nghệ số trong dạy học ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy tích hợp, khoa học và ngôn ngữ, nghiên cứu về thiết kế xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ văn hóa...
TS. Hoa Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội) nhấn mạnh, mục tiêu của hội thảo nhằm chia sẻ kết quả nghiên cứu, những phát hiện mới và kết nối cộng đồng chuyên môn để hướng đến tạo ra những chương trình đào tạo, những chuỗi bài giảng hiệu quả hơn và dễ tiếp cận hơn cho người học.
Cần xây dựng 'hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh' trong trường học
Tại phiên thảo luận, GS.TS Nguyễn Hòa, Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, Quyết định 2371 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” là dấu mốc quan trọng, nâng cao vị thế và mở rộng phạm vi sử dụng tiếng Anh trong không gian trường học, từ đó phát triển toàn diện con người Việt Nam, thúc đẩy hội nhập quốc tế.
"Vì vậy, không thể dạy tiếng Anh như một môn học để thi mà phải mở rộng phạm vi sử dụng tiếng Anh trong không gian mới", GS.TS Nguyễn Hòa nói.
Theo GS.TS Nguyễn Hòa, thay vì chỉ xem tiếng Anh là môn học phục vụ kiểm tra, đánh giá, các cơ sở giáo dục cần xây dựng “hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh” linh hoạt và phù hợp với điều kiện từng trường.
Ông gợi ý, tiếng Anh có thể hiện diện trong không gian số của nhà trường, trong hoạt động ngoại khóa hay các hoạt động giao tiếp thường ngày. Mỗi cơ sở giáo dục có thể lựa chọn mô hình phù hợp thay vì áp dụng một khuôn mẫu cứng nhắc.
Bên cạnh đó, GS.TS Nguyễn Hòa cho rằng việc tích hợp giữa dạy ngôn ngữ và dạy nội dung chuyên môn sẽ là xu hướng tất yếu. Trong đó, mô hình CLIL (tích hợp nội dung và ngôn ngữ) phù hợp với giáo dục phổ thông, còn EMI (giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh) phù hợp hơn ở giáo dục đại học.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, GS.TS Nguyễn Hòa cho biết nhiều quốc gia từng triển khai dạy học bằng tiếng Anh nhưng phải điều chỉnh hoặc dừng lại do gặp phản ứng xã hội và khó khăn trong triển khai.
Indonesia từng áp dụng EMI cho môn Toán và Khoa học từ năm 2006 nhưng phải dừng vào năm 2013 do lo ngại ảnh hưởng bản sắc dân tộc và làm suy yếu tiếng mẹ đẻ Bahasa.
Malaysia cũng triển khai dạy Toán và Khoa học bằng tiếng Anh từ năm 2002, song sau đó phải dừng vì học sinh không nắm chắc nội dung môn học.
Theo ông, đây không phải thất bại của các mô hình CLIL hay EMI mà là thất bại trong tổ chức thực hiện.
“Nếu triển khai không tốt, học sinh sẽ nói rằng học bằng tiếng Anh nhưng không hiểu Toán, không hiểu Khoa học. Khi đó tác động xã hội sẽ rất lớn”, ông cảnh báo.
Một điểm đáng chú ý trong đề xuất của GS.TS Nguyễn Hòa là cần thay đổi cách kiểm tra, đánh giá khi dạy học tích hợp bằng tiếng Anh.
Theo ông, bài kiểm tra nên phân tách rõ đánh giá nội dung môn học và năng lực ngôn ngữ, với tỷ lệ gợi ý 70-30 hoặc 80-20, trong đó phần lớn điểm số dành cho mức độ hiểu nội dung.
“Nếu học sinh dùng tiếng Anh chưa chuẩn nhưng hiểu đúng nội dung thì không nên trừ điểm phần kiến thức”, ông nhấn mạnh.
Năm học 2026-2027 sẽ thí điểm dạy tích hợp tiếng Anh tại các trường chuyên
Chia sẻ tại hội thảo, TS. Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban Quản lý Đề án Ngoại ngữ Quốc gia cho rằng việc triển khai tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong trường học cần được hiểu đúng bản chất, có lộ trình phù hợp và đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng giáo dục thay vì chạy theo hình thức song ngữ.
Theo bà, Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” không phải là yêu cầu bắt buộc tất cả trường học phải dạy song ngữ ngay lập tức mà là định hướng để các cơ sở giáo dục từng bước xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế.
Việc triển khai tập trung ba nhóm nhiệm vụ chính: tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh như một môn học; giảng dạy các môn học khác bằng tiếng Anh và xây dựng môi trường giao tiếp, làm việc bằng tiếng Anh trong nhà trường.
“Tiếng Anh trong nhà trường không chỉ là giờ học ngoại ngữ mà còn là ngôn ngữ của giao tiếp, trình bày, trao đổi công việc và hoạt động học đường”, bà nhấn mạnh.
Theo TS Nguyễn Thị Mai Hữu, việc triển khai sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn với mức độ khác nhau, thay vì áp dụng đồng loạt.
Trong đó, dự kiến từ học kỳ II năm học 2026-2027, Bộ GD-ĐT sẽ triển khai thí điểm dạy tích hợp ngôn ngữ (CLIL) tại các trường THPT chuyên trên cả nước.
“Không phải tất cả môn học đều dạy bằng tiếng Anh. Chỉ cần một số nội dung hoặc hoạt động được triển khai bằng tiếng Anh cũng đã là bước khởi đầu”, bà nói.
