Nghị định 236/2026 quy định: Việc xác định vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành. Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. Việc cụ thể hóa nhiệm vụ theo chuyên ngành, lĩnh vực hoặc đối tượng phục vụ chỉ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, không làm thay đổi tên gọi hoặc phát sinh vị trí việc làm mới (được quy định tại Điều 5 Nghị định 232/2026).
Nghị định cũng thống nhất danh mục vị trí việc làm của viên chức trên phạm vi cả nước, gồm ba nhóm: vị trí việc làm quản lý; vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; và vị trí việc làm hỗ trợ. Các đơn vị sự nghiệp công lập không được tự phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành, đồng thời không được chia tách, gộp hoặc thay đổi tên gọi của các vị trí việc làm trong danh mục.
Một nội dung quan trọng của Nghị định là áp dụng hệ thống 5 bậc nghề nghiệp đối với các vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ. Theo Khoản 3, Điều 7 Nghị định 232/2026, bậc nghề nghiệp được xác định từ bậc 1 đến bậc 5, phản ánh yêu cầu về trình độ, năng lực và mức độ phức tạp của công việc. Cụ thể: Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B; Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0; Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1; Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1); Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).
Đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quy mô hoạt động để lựa chọn số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm nhưng không vượt quá số bậc đã được quy định trong danh mục. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đang đảm nhiệm.
Nghị định quy định mỗi vị trí việc làm phải xây dựng một bản mô tả công việc và một khung năng lực (hướng dẫn cụ thể tại Phụ lục IV). Nội dung bao gồm mục tiêu của vị trí, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra, yêu cầu về năng lực, trình độ, kinh nghiệm, phạm vi quyền hạn và mối quan hệ công tác. Đây sẽ là căn cứ quan trọng để tuyển dụng, bố trí, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng viên chức.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định tỷ lệ viên chức được bố trí theo từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm nhằm bảo đảm cơ cấu đội ngũ hợp lý. Đồng thời, quy định rõ thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm, thành phần hồ sơ, trình tự phê duyệt cũng như các trường hợp được điều chỉnh danh mục vị trí việc làm và tỷ lệ bố trí viên chức khi có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động hoặc yêu cầu cơ cấu lại đội ngũ.
Về tiền lương, Điều 7 Nghị định có nói rõ: Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức tiếp tục được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý, tiền lương được xếp theo bậc nghề nghiệp của vị trí chuyên môn hoặc vị trí hỗ trợ đang đảm nhiệm và hưởng phụ cấp chức vụ theo quy định hiện hành./.
