Thực trạng đáng lo ngại về ung thư vú về ung thư vú tại Việt Nam
Với gần 25.000 ca mắc mới mỗi năm, ung thư vú đã vượt qua ung thư gan để trở thành loại ung thư đứng đầu tại Việt Nam. Theo dữ liệu từ GLOBOCAN 2022, mỗi năm, nước ta ghi nhận khoảng 25.000 ca mắc mới và 10.000 ca tử vong do ung thư vú.
Đáng lo ngại hơn, một nghiên cứu tại TP.HCM chỉ ra rằng trong vòng 20 năm (1995-2015), số ca mắc mới ung thư vú đã tăng tới 70% và có xu hướng trẻ hóa rõ rệt. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn sớm chỉ đạt khoảng 26%. Phần lớn phụ nữ vẫn tìm đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, tước đi cơ hội điều trị bảo tồn và kéo dài sự sống.
Câu chuyện của chị Vũ Thị H. (42 tuổi, ở Hà Nội) là một điển hình. Phát hiện khối u khi đang mang bầu, chị đã trải qua những ngày hoang mang tột độ. Kết quả chẩn đoán giai đoạn 3A khiến chị sốc nặng. "Lúc đấy dùng dằng tâm lý không muốn bỏ con nên em phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều. Tuy nhiên, bệnh của em là ung thư vú thụ thể nội tiết dương tính, nếu tiếp tục mang thai thì bệnh sẽ diễn biến nặng hơn nên buộc phải đình chỉ thai để điều trị", chị H. chia sẻ. Nhờ sự động viên của các bác sĩ chị đã chấp nhận phác đồ hóa trị và phẫu thuật để giành lại sự sống.
Khác với chị H., chị Nguyễn Thị T. (53 tuổi, Thái Nguyên) phát hiện khối u ở vú từ 5 năm trước. Tuy nhiên, thấy khối u không gây đau, cũng không phát triển về kích thước, cùng với tâm lý lo sợ "nhỡ là ung thư thật" nên chị không đi khám. Gần đây, khối u lớn dần lên, người nhà ép đi khám chị mới đến bệnh viện và được chẩn đoán bệnh đã ở giai đoạn 3. Chị T. cho biết, ban đầu chị cũng sốc và lo lắng. Tuy nhiên, khi nhập viện, được bác sĩ giải thích cặn kẽ về phác đồ điều trị đồng thời chứng kiến các bệnh nhân khác cũng đang kiên cường chiến đấu với căn bệnh ung thư vú, chị cảm thấy mình không đơn độc trong hành trình chữa bệnh và tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ.
Câu chuyện của chị H. và chị T. là lời nhắc nhở: nỗi sợ hãi hay sự chủ quan đều có thể trở thành rào cản tước đi cơ hội sống khỏe mạnh của mỗi người phụ nữ.
Những rào cản khiến phụ nữ Việt ngại tầm soát sớm ung thư vú
Ung thư vú nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm thì việc điều trị thường nhẹ nhàng hơn, chi phí thấp và phần lớn được bảo hiểm y tế chi trả. Ngược lại, nếu phát hiện muộn thì đó sẽ là một cuộc chiến khốc liệt với chi phí điều trị tăng cao.
Theo bác sĩ chuyên khoa II Mai Thanh Huyền – Phó trưởng khoa Khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Hữu Nghị, trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều bước tiến chẩn đoán cũng như điều trị ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng. Tuy nhiên, so với các nước phát triển trên thế giới, tỉ lệ bệnh nhân ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn sớm còn rất hạn chế. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Thứ nhất là rào cản về tâm lý, nhận thức: Nhiều phụ nữ không đi có thói quen khám sức khỏe định kỳ, e ngại thăm khám các bộ phận nhạy cảm. Một số trường hợp sợ hãi, né tránh khi thấy xuất hiện khối u hoặc chủ quan khi thấy khối u không đau nên không đi khám để được chất đoán, phát hiện sớm.
- Thứ hai là hệ thống sàng lọc ung thư vú chưa được bao phủ trên diện rộng: Nếu như ở các nước phát triển, sàng lọc ung thư vú được miễn phí hoặc được bảo hiểm y tế chi trả cho phụ nữ ở một số giai đoạn tuổi nhất định thì ở Việt Nam chưa có chương trình sàng lọc miễn phí đồng bộ trên diện rộng; người dân thường phải tự chi trả kinh phí cho việc khám sàng lọc ung thư vú.
- Thứ ba là hạn chế về nguồn lực tại tuyến cơ sở: Các thiết bị chuyên sâu như máy chụp X-quang tuyến vú, siêu âm đàn hồi tuyến vú, MRI chủ yếu tập trung tại các bệnh viện tuyến trung ương hoặc tuyến tỉnh. Do hạn chế về trang thiết bị nên năng lực và kinh nghiệm sàng lọc, chẩn đoán, phát hiện sớm ung thư vú ở các tuyến y tế cơ sở cũng hạn chế.
- Thứ tư là rào cản kinh tế: Chi phí tầm soát ung thư vú vẫn là một khoản chi lớn, nhất là đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Thứ năm là thói quen điều trị bệnh theo kinh nghiệm dân gian: Nhiều bệnh nhân ung thư vú vẫn tin vào việc đắp lá, theo thầy lang, chỉ đến bệnh viện khi khối u đã lở loét, hoại tử.
"Nếu phát hiện ở giai đoạn 0 hoặc 1, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú có thể đạt tới hơn 90%. Không chỉ tăng cơ hội sống, việc phát hiện sớm còn mang lại nhiêu lợi ích như bệnh nhân có thể điều trị bảo tồn, không phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú, giúp chị em giữ được vẻ đẹp của vòng 1 và sự tự tin. Đồng thời, điều trị ở giai đoạn sớm thường nhẹ nhàng hơn và ít tốn kém hơn nhiều so với giai đoạn muộn", bác sĩ Mai Thanh Huyền nhấn mạnh.
Tầm soát ung thư vú đúng cách
Để không bỏ lỡ cơ hội vàng trong điều trị ung thư vú, BS Mai Thanh Huyền khuyến cáo phụ nữ nên chủ động tầm soát ung thư vú theo nhóm nguy cơ.
- Với nhóm nguy cơ trung bình: Từ 20 - 39 tuổi: Chị em nên tự khám vú tại nhà hàng tháng theo hướng dẫn của bác sĩ. Từ 40 tuổi trở lên: Nên chụp X-quang tuyến vú định kỳ 1-2 năm/lần và khám lâm sàng chuyên khoa hàng năm.
- Với nhóm nguy cơ cao (trường hợp trong gia đình có người mắc ung thư vú, người sinh con muộn, kinh nguyệt sớm, người thừa cân béo phì hoặc có lối sống không lành mạnh) nên thực hiện tầm soát ung thư vú từ tuổi 30 hoặc sớm hơn theo chỉ định của bác sĩ. Cùng với việc khám lâm sàng nên thực hiện chụp X-quang tuyến vú hoặc chụp MRI tuyến vú hàng năm.
Về việc xét nghiệm di truyền ung thư vú, bác sĩ Mai Thanh Huyền khuyến cáo đây không phải xét nghiệm đại trà mà chỉ nên thực hiện đối với những người có người thân trực hệ (như mẹ, chị em gái, con đẻ) mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng để xác định đột biến gen và đưa ra chiến lược dự phòng sớm.
