PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn- Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần- Bệnh viện Bạch Mai cho biết, rối loạn hoảng sợ theo Tổ chức Y tế Thế giới là một dạng rối loạn tâm thần và hành vi, được xếp trong các rối loạn liên quan đến stress. Và đến nay, thông tư quy định cấp cứu trong y khoa cũng như trong tâm thần học, Cục Quản lý Khám chữa bệnh- Bộ Y tế đã coi rối loạn hoảng sợ là một trạng thái cấp cứu.

Rối loạn hoảng sợ dễ bị lầm tưởng mắc bệnh tim

Rối loạn hoảng sợ nằm trong rối loạn liên quan đến stress và thuộc nhóm rối loạn lo âu. Đối với nhóm rối loạn lo âu thì tỷ lệ mắc trung bình cả đời là khoảng 14%- 15% toàn bộ dân số. Trong đó, rối loạn hoảng sợ chiếm 2% dân số. Đáng chú ý, tất cả các các lứa tuổi đều có thể mắc, đặc biệt nữ giới có tỷ lệ mắc gấp đôi nam giới.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn, nguyên nhân khiến nữ giới mắc chứng rối loạn hoảng sợ nhiều hơn nam là do một số yếu tố sinh học như: gen, những chất dẫn truyền thần kinh trung ương, từ những vùng não như vùng hạnh nhân hoặc vùng đồi thị, thể vân và vỏ não, vùng amygdala.

“Ngoài yếu tố sinh học, các sang chấn về tâm lý cũng là nguyên nhân gây bệnh. Tâm lý của nữ cũng rất khác nam. Và thêm nữa, nữ giới cũng có những biến đổi sinh học theo chu kỳ rõ hơn nam giới. Và chính điều đó khiến nữ giới mắc chứng rối loạn hoảng sợ nhiều hơn nam giới”- PGS Nguyễn Văn Tuấn cho hay.

Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp lầm tưởng mình bị đau tim nhưng thực ra lại là rối loạn hoảng sợ.

“Nhận biết rối loạn hoảng sợ khá khó khăn. Biểu hiện của rối loạn hoảng sợ gồm tim đập nhanh (trống ngực thình thịch), huyết áp tăng, vã mồ hôi... những biểu hiện này giống như cơn đau tim, nhồi máu cơ tim. Mà trong trạng thái đấy người bệnh rất hoảng loạn, rất sợ hãi. Thế nên, lúc đấy người ta gần như không nhận biết đấy là rối loạn hoảng sợ mà lại nghĩ đến những bệnh lý khác như bệnh lý tim mạch chẳng hạn”- PGS Nguyễn Văn Tuấn nói.

Chẩn đoán chính xác và điều trị rối loạn hoảng sợ có khó?

Rối loạn hoảng sợ không phân biệt lứa tuổi, từ lứa tuổi trẻ, thậm chí trẻ em, đến người già đều có thể mắc. Việc thăm khám lâm sàng rất quan trọng, cùng với đó là khám cận lâm sàng. “Khám cận lâm sàng cần thực hiện các xét nghiệm về gen, về GABA hoặc là serotonin ở dịch não tủy đây là những xét nghiệm thường được sử dụng trong các nghiên cứu chuyên sâu về bệnh thần kinh. Ngoài ra, người bệnh cần thăm dò hình ảnh chức năng vùng Amygdala (hạnh nhân), vùng thể vân và vùng vỏ não. Bên cạnh đó, cần thực hiện trắc nghiệm tâm lý. Đặc biệt như ở trẻ em có trắc nghiệm CDI, người lớn trắc nghiệm Zung, hoặc là Hamilton, và người già thì có cái trắc nghiệm CGI”- PGS Nguyễn Văn Tuấn chia sẻ.

Theo các chuyên gia, rối loạn hoảng sợ thuộc nhóm bệnh có thể điều trị được và điều trị hiệu quả. Có nhiều phương pháp điều trị độc lập hoặc kết hợp để có thể làm giảm hoặc làm mất chứng rối loạn hoảng sợ.

“Ví dụ như phương pháp phân tử, tức là bệnh nhân có thể dùng thuốc phù hợp với cá thể, có thể dùng gen v.v... Ngoài ra, bệnh nhân có thể điều trị theo phương pháp điều biến não, ví dụ như kích thích từ xuyên sọ, kích thích dòng điện một chiều xuyên sọ, kích thích phế vị... cũng rất hiệu quả. Và thêm nữa, có thể điều trị tâm lý từ liệu pháp nhận thức hành vi, liệu pháp hành vi, liệu pháp thư giãn luyện tập, kể cả những hoạt động trị liệu vừa hiệu quả, vừa dễ tiếp cận”- PGS Nguyễn Văn Tuấn cho hay.

Rối loạn hoảng sợ có thể phòng ngừa?

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn, khi người dân hiểu rõ nguyên nhân và tính chất bệnh lý thì việc dự phòng là cần thiết và có thể thực hiện được.

“Nếu có gen rối loạn hoảng sợ, có những vùng não tổn thương mà muốn phát hiện sớm, ví dụ như từ lúc gen bệnh chưa hoạt động thì đã phải làm xét nghiệm gen rồi, hoặc là xét nghiệm chất dẫn truyền thần kinh ở dịch não tủy, hoặc chụp cộng hưởng chức năng hoặc PET-CT. Đây là những kỹ thuật cao, tốn kém nên thường áp dụng cho những người có di truyền bậc một (bố, mẹ hoặc anh, chị, em ruột bị rối loạn hoảng sợ) sẽ giúp phát hiện sớm, quản lý bệnh và điều trị tốt hơn”.

Để phòng ngừa bệnh rối loạn hoảng sợ có thể áp dụng một số biện pháp sau:

- Ngủ đủ giấc, tập thể dục hàng ngày và xây dựng chế độ ăn uống điều độ

- Cố gắng giảm căng thẳng trong cuộc sống

- Học thiền, xoa bóp, yoga, thái cực quyền và các bài tập làm giảm stress

- Cần tới ngay các cơ sở y tế nếu gặp phải cơn hoảng loạn thường xuyên hoặc có tác dụng phụ từ thuốc, bị trầm cảm hoặc có ý định tự tử

PGS.TS.BS Nguyễn Văn Tuấn cũng đưa ra khuyến cáo với những người đã từng mắc bệnh rối loạn hoảng sợ: “Với các trường hợp bị lạm dụng thời niên thiếu, hoặc là những người gặp phải stress trường diễn cần phải quản lý thật tốt các nguyên nhân này. Đây chính là những phương pháp dự phòng bệnh. Ngoài ra, để phòng tái phát và giảm thiểu mức độ bệnh tiến triển nặng, người bệnh cũng cần tuân thủ điều trị, quản lý bệnh thật tốt”.