Theo quyết định của Bộ GD-ĐT, 111 ngành đào tạo được áp dụng chính sách học bổng theo Nghị định số 179 năm 2026 của Chính phủ.

111 ngành đào tạo này nằm trong 15 nhóm ngành Khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, gồm: Sinh học; Sinh học ứng dụng; Khoa học vật chất; Khoa học trái đất; Toán học; Thống kê; Máy tính; Công nghệ thông tin; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông.

Ngoài ra còn có các nhóm ngành: Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường; Vật lý kỹ thuật; Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa; Kỹ thuật mỏ; Xây dựng.

Tại quyết định này, Bộ GD-ĐT cũng quy định rõ nguyên tắc áp dụng. Theo đó, ngành đào tạo quy định tại danh mục được xác định theo mã ngành đào tạo thuộc danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học do Bộ GD-ĐT ban hành.

Các chương trình đào tạo có thể có tên khác tên ngành nhưng được xếp vào một mã ngành đào tạo của một nhóm ngành.

Trong trường hợp ngành đào tạo được sửa đổi tên gọi, mã ngành hoặc được thay thế trong danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học thì việc áp dụng chính sách học bổng được thực hiện đối với ngành đào tạo thay thế có nội dung chuyên môn tương đương.

Nếu phát sinh ngành đào tạo mới thuộc phạm vi các nhóm ngành quy định tại Nghị định 179 của Chính phủ, Bộ GD-ĐT sẽ xem xét cập nhận danh dục theo quy định.

Danh mục 111 ngành đào tạo được hưởng chính sách học bổng:

Trước đó, ngày ngày 20/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 179 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành Khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Theo quy định, sinh viên học chương trình đào tạo tài năng được hưởng học bổng 5 triệu đồng/tháng. Sinh viên theo học ngành vi mạch bán dẫn và các ngành khoa học cơ bản được hưởng 4,2 triệu đồng/tháng. Sinh viên các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được hưởng 3,7 triệu đồng/tháng.

Sinh viên được cấp học bổng 10 tháng trong một năm học. Tổng thời gian hưởng học bổng tối đa là 5 năm nếu duy trì kết quả học tập theo quy định.

Đối với học viên trình độ thạc sĩ, mức học bổng dao động từ 5,5 đến 7,4 triệu đồng/tháng. Trong đó, học viên học chương trình đào tạo tài năng được hưởng 7,4 triệu đồng/tháng, học viên các ngành vi mạch bán dẫn và khoa học cơ bản được hưởng 6,3 triệu đồng/tháng, học viên các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được hưởng 5,5 triệu đồng/tháng.

Với nghiên cứu sinh tiến sĩ, mức học bổng cao nhất là 8,4 triệu đồng/tháng dành cho chương trình đào tạo tài năng, vi mạch bán dẫn và các ngành khoa học cơ bản. Nhóm ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được hưởng 7,4 triệu đồng/tháng.

Theo Nghị định, sinh viên được hưởng học bổng 10 tháng trong một năm học; học viên cao học và nghiên cứu sinh được hưởng học bổng 12 tháng trong một năm học. Tổng thời gian hưởng học bổng tối đa là 5 năm đối với sinh viên đại học, 2 năm đối với học viên cao học và 3 năm đối với nghiên cứu sinh.

Nghị định cũng quy định cụ thể điều kiện xét hưởng học bổng. Đối với người học trúng tuyển theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, một trong các điều kiện là có điểm trung bình cộng 3 môn theo tổ hợp xét tuyển đạt từ 22,50 trở lên, không bao gồm điểm ưu tiên và điểm cộng; đồng thời thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất của ngành hoặc chương trình đào tạo.

Ngoài ra, học sinh đạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế cũng thuộc đối tượng xét hưởng học bổng.

Trong quá trình học tập, người học phải đáp ứng yêu cầu về kết quả học tập, số tín chỉ tích lũy theo quy định và không bị kỉ luật từ mức khiển trách trở lên để tiếp tục được hưởng học bổng.

Đáng chú ý, chính sách không chỉ áp dụng với các thí sinh trúng tuyển năm 2026, đối với các chương trình đào tạo đã tuyển sinh từ năm 2025, có khoảng 22.250 sinh viên đủ điều kiện nhận học bổng, bắt đầu từ 1/9 năm nay.

Năm 2026, số người nhận học bổng dự kiến tăng lên khoảng 30.000–32.000 người học ở cả ba trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Tổng kinh phí học bổng dành cho khóa tuyển sinh năm 2025 ước khoảng 350 tỷ đồng (học bổng 4 tháng năm 2025).

Đối với khóa tuyển sinh năm 2026, quy mô kinh phí dự kiến cao hơn.