Đây là một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra tại Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Mục tiêu lớn nhất của Chiến lược là đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.

Đến 2035 tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%

Chiến lược không chỉ đặt ra các chỉ tiêu đến năm 2030 hay 2035, mà tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển và quản trị đại học. Một trường đại học không thể chỉ quan tâm tuyển được bao nhiêu sinh viên, mà phải trả lời được: nhà trường đào tạo nhân lực cho lĩnh vực nào; giải quyết vấn đề gì của đất nước; kết quả đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao đã tạo ra giá trị gì cho xã hội.

Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong 12 tháng.

Những con số này phải được chuyển hóa thành chất lượng và hiệu quả thực chất. Qua đó, mỗi trường đại học phải được nhận diện bằng chất lượng và giá trị đóng góp cho đất nước, không chỉ bằng quy mô đào tạo.

Giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập

Một mục tiêu đến năm 2035 là giảm tối thiểu 20% số cơ sở giáo dục đại học công lập so với năm 2025. Các cơ sở không đạt chuẩn có thể bị sáp nhập hoặc giải thể. Một số viện nghiên cứu chuyên ngành sẽ được sáp nhập vào cơ sở đại học mạnh trên địa bàn.

Các cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực sẽ được chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý. Những cơ sở trực thuộc bộ, ngành, cơ quan trung ương được tổ chức lại để tập trung thực hiện nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ chuyên môn đặc thù.

Chiến lược cũng đặt mục tiêu lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm theo ngành, lĩnh vực và vùng. Trong số này, 3-5 cơ sở được định hướng phát triển thành đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Theo kế hoạch, danh sách 30 cơ sở trọng điểm và 3-5 đại học định hướng tinh hoa phải được phê duyệt trong tháng 12-2026. Mỗi cơ sở phải có nhiệm vụ, chỉ tiêu và đề án cam kết riêng. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đánh giá với sự tham gia của hội đồng chuyên gia độc lập.

Chiến lược yêu cầu bảo đảm chi tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, ưu tiên cơ sở trọng điểm, đại học định hướng tinh hoa, ngành chiến lược và ngành thiết yếu.

Ngoài ra, chính sách học phí cũng được điều chỉnh theo hướng nâng trần tương xứng với chất lượng, tính đúng, tính đủ chi phí. Nhà nước sẽ rà soát, mở rộng học bổng cho nhóm yếu thế, ngành chiến lược, ngành thiết yếu và tín dụng ưu đãi cho sinh viên.

Thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế

Chiến lược xác định không thể nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu nếu tiếp tục đầu tư nhỏ lẻ, phân tán hoặc chỉ chú trọng giảng đường. Hạ tầng đại học hiện đại phải bao gồm đồng bộ phòng thí nghiệm, hạ tầng số, dữ liệu, trung tâm tính toán và không gian đổi mới sáng tạo.

Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và các ngành chiến lược; phát triển từ 20 đến 25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế, với nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và đại học uy tín trên thế giới.

Một định hướng quan trọng là phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung. Thiết bị giá trị lớn, phòng thí nghiệm chuyên sâu, trung tâm tính toán hiệu năng cao và dữ liệu khoa học phải được tổ chức để nhiều trường, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác, qua đó nâng cao hiệu suất đầu tư và thúc đẩy nghiên cứu liên ngành.

Đầu tư phải gắn với sản phẩm đầu ra: nhân lực được đào tạo, công nghệ và sáng chế được tạo ra, hợp đồng chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn và đóng góp cho nhiệm vụ chiến lược. Đồng thời, Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2035 thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam.

Quan điểm thể hiện trong Chiến lược, không đầu tư thiết bị để trưng bày, không xây phòng thí nghiệm để đạt chuẩn hình thức; mỗi khoản đầu tư phải được chuyển hóa thành năng lực đào tạo, kết quả nghiên cứu và giá trị phục vụ xã hội.

Chiến lược cũng đặt ra bộ chỉ số cốt lõi của giáo dục đại học. Bộ chỉ số là công cụ để chuyển từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục sang quản trị bằng mục tiêu, dữ liệu và kết quả. Đây cũng là “bảng đo sức khỏe và mức độ đóng góp” của từng cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với sứ mạng của cơ sở đó.

Bộ chỉ số sẽ tập trung vào năm nhóm: chất lượng đào tạo và việc làm của người học; năng lực đội ngũ; kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực; mức độ đóng góp cho xã hội, ngành, vùng và đất nước.