Mời các bạn bấm nút nghe nội dung:
Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ đơn lập có thanh điệu. Mỗi từ đơn đồng thời là một âm tiết, một hình vị, thường được gọi là một tiếng. Điều này tạo nên đặc trưng độc đáo trong việc tạo nên từ ghép.
Về mặt lịch sử ngôn ngữ, theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, giảng viên khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, yếu tố đứng sau như “dấu”, “búa”, “vả”… không vô nghĩa hoàn toàn mà rơi vào một trong ba trường hợp:
Thứ nhất, yếu tố phía sau góp phần tăng cường nét nghĩa. Ví dụ như với “yêu dấu”. Ở đây “dấu” là một từ Việt cổ, khi kết hợp với từ “yêu” sẽ đóng vai trò mở rộng phạm vi cảm xúc, chuyển từ động từ trạng thái thành một nét nghĩa chung mang tính sở hữu, gìn giữ, nâng niu và có thái độ trân trọng.
Thứ hai, sẽ xảy ra tình trạng yếu tố cổ bị mờ nghĩa theo thời gian. Ví dụ như trường hợp “vả” trong “nhờ vả”. Trong tiếng Việt cổ, từ “vả” vốn mang nét nghĩa liên quan đến việc cậy nhờ, cầu xin. Qua quá trình phát triển, từ “vả” dùng độc lập bị thoái hóa và mất nghĩa trong đời sống hiện đại.
Do đó từ “vả” chỉ còn tồn tại dưới dạng giống như là hóa thạch và đi kèm với “nhờ”. Hiện tượng này thể hiện sự chuyển biến lịch sử và đặc trưng thẩm mỹ ngữ âm độc đáo của ngôn ngữ đơn lập”, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy phân tích.
Thứ ba, các yếu tố đứng sau góp phần bổ sung sắc thái khái quát. Ví dụ như trường hợp “búa” trong “chợ búa”. Cụ thể, chúng ta sẽ thấy “búa” không phải một dụng cụ trong sinh hoạt mà đã có hai hướng giải thích từ ngữ.
Trước hết, đây là một từ cổ chỉ nơi nhóm họp giao thương. Tiếp theo, đây thuộc hình thái biến âm hoặc lái nghĩa để tạo nên tính chất tập hợp. Khi đi kèm với “chợ”, từ “búa” làm cho một địa điểm cụ thể trở thành một khái niệm mang tính khái quát tổng thể để chỉ hoạt động mua bán nói chung.
Tiếng Việt cũng có một số trường hợp tương tự như từ “bếp núc”, có cấu tạo là một từ ghép đẳng lập gồm một yếu tố chính là “bếp” rõ nghĩa và “núc” thuộc yếu tố phụ, góp phần mở nghĩa.
“Núc” trong tiếng Việt cổ dùng để chỉ ba cục đất hoặc cục gạch kê bếp lò ngày xưa. Qua thời gian dài, dụng cụ này không còn phổ biến nữa. Từ “núc” bởi lẽ đó đã bị bất nghĩa độc lập. Về mặt giá trị tạo từ, khi đi cùng với “bếp” đã giúp mở rộng nghĩa, từ một không gian cụ thể thành khái niệm khái quát chỉ toàn bộ công việc nấu nướng, nội trợ nói chung.
Các từ như “chim chóc”; “đường sá”, “tre pheo”; “cây cối”; “tuổi tác”… cũng có cách thức cấu tạo cũng như quá trình thay đổi về nét nghĩa tương tự.
Việc hình thành các từ này, theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, vừa mang tính quy tắc ngữ âm, ngữ nghĩa lịch sử, vừa mang tính cố định hóa qua thói quen sử dụng. Về quy tắc lịch sử ngữ âm có 2 quy tắc.
Quy tắc thứ nhất là quy tắc phổ thanh. Các từ này tuân theo sự đối ứng về thanh điệu hoặc sự tương đồng về khuôn hình ngữ âm để tạo ra sự thuận miệng khi nói.
Quy tắc thứ hai là tạo từ ghép đẳng lập có một yếu tố chính rõ nghĩa và một yếu tố phụ mờ nghĩa hoặc yếu tố phụ biến đổi về ngữ âm. Bên cạnh đó còn có tính cố định hay còn gọi là phụ thuộc vào thói quen của người sử dụng ngôn ngữ. Ở thời điểm hiện tại, quy tắc tạo từ kiểu này không còn hoạt động theo dạng sản sinh tự do để tạo ra các từ mới nữa mà đã trở thành các đơn vị từ vựng định hình trong từ điển. Điều này khiến người sử dụng ngôn ngữ tiếp nhận sử dụng chúng như những khối từ nguyên vẹn, theo thói quen sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng.
Trường hợp “yêu dấu” khá đặc biệt khi có thể đảo vị trí thành “dấu yêu” mà từ vẫn có ý nghĩa. Ở đây có một quy tắc sử dụng tùy theo từng trường hợp.
“Các từ có yếu tố mờ nghĩa, thường mang sắc thái biểu cảm, hoặc là có ý khái quát hay có tính khẩu ngữ cao hơn so với từ đơn gốc. Hiện tượng đảo vị trí mà vẫn có ý nghĩa phụ thuộc vào mức độ độc lập ngữ nghĩa và tính chất từ loại của các yếu tố thành phần. Chúng ta thấy “yêu dấu” có thể đảo thành “dấu yêu” vì cả “yêu” và “dấu” đều là các từ tố mang nghĩa tích cực và có khả năng hoạt động ngữ pháp tương đối độc lập”, cô Phương Thùy phân tích.
Nhưng với trường hợp “chợ búa” lại không thể đảo vị trí từ, do “búa” đã hoàn toàn mất nghĩa độc lập trong tiếng Việt hiện đại. Và ngữ pháp tiếng Việt không cho phép một yếu tố vô nghĩa hoặc mờ nghĩa hoàn toàn đứng trước làm hạt nhân cho một từ ghép độc lập./.
